1. Gia hạn sử dụng đất ở TP. HCM
Trên cơ sở quy định về gia hạn thời hạn sử dụng đất tại khoản 3 Điều 172 Luật Đất đai 2024 và khoản 1 Điều 64, khoản 5 Điều 112 Nghị định 102/2024/NĐ-CP, ngày 07/8/2024, Sở Tài nguyên và Môi trường TP. HCM đã phát hành Công văn 7789/STNMT-QLĐ về thực hiện thủ tục gia hạn sử dụng đất theo LĐĐ 2024 nhằm đề nghị các cơ quan ban ngành, người sử dụng đất kịp thời thực hiện quy định pháp luật về gia hạn sử dụng đất. Theo đó:
Hồ sơ đề nghị gia hạn phải được nộp chậm nhất là 06 tháng trước khi hết thời hạn sử dụng đất. Quá thời hạn phải nộp hồ sơ mà người sử dụng đất không nộp thì không được gia hạn; khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thu hồi đất theo quy định. Tức là, ngày 05/9/2024 là hạn cuối để nộp hồ sơ gia hạn đất cho các đất sẽ hết hạn vào ngày 05/3/2025; đất hết hạn ngày 05/3/2025 mà ngày 05/9/2024 vẫn chưa làm thủ tục gia hạn thì sẽ không được gia hạn.
Trừ các trường hợp được tiếp tục sử dụng đất khi hết hạn mà không phải làm thủ tục gia hạn sau: được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng trong hạn mức quy định (điểm a khoản 1 Điều 172 LĐĐ 2024).
Trường hợp đã hết thời hạn sử dụng đất nhưng đến ngày 01/8/2024 mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thu hồi đất thì người sử dụng đất được thực hiện thủ tục gia hạn sử dụng đất trong thời gian 06 tháng kể từ ngày 01/8/2024 (đến hết 31/01/2025). Hết thời hạn này mà người sử dụng đất không làm thủ tục gia hạn thì Nhà nước thu hồi đất.
Như vậy, người sử dụng đất cần khẩn trương nộp hồ sơ gia hạn sử dụng đất đối với trường hợp đã hết hạn, sắp hết hạn sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền để tránh bị thu hồi đất theo quy định.
2. Một số quy định mới về giấy phép lái xe từ ngày 1/1/2025 cần phải biết
Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ 2024 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, trong đó có một số quy định mới về giấy phép lái xe, cụ thể:
Thứ nhất, tăng số hạng giấy phép lái xe (khoản 1 Điều 57): từ ngày 01/01/2025, sẽ không còn giấy phép lái xe hạng A2, A3, A4, B2, E, FB2, FD, FE, FC và bổ sung giấy phép lái xe hạng A, C1, D1, D2, BE, C1E, CE, DE, D1E, D2E. (Hiện nay đang áp dụng 13 hạng: A1, A2, A3, A4, B1, B2, C, D, E, FB2, FD, FE, FC.)
Thứ hai, sửa đổi thời hạn sử dụng giấy phép lái xe (khoản 5 Điều 57):
Giấy phép lái xe các hạng A1, A, B1 không thời hạn; (Hiện nay, đang áp dụng hạng A1, A2, A3 không có thời hạn)
Giấy phép lái xe hạng B và hạng C1 có thời hạn 10 năm kể từ ngày cấp;
Giấy phép lái xe các hạng C, D1, D2, D, BE, C1E, CE, D1E, D2E và DE có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp.
Thứ ba, thay đổi độ tuổi giấy phép lái xe (khoản 1 Điều 59): người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy (hiện nay người đủ 16 tuổi mới chỉ được chạy xe gắn máy có dung tích xi- lanh dưới 50cm3).
3. Từ 1/7/2024, bị tòa bác yêu cầu ly hôn, được nộp đơn lại ngay, không cần chờ 1 năm
Nghị quyết 01/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong giải quyết hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao sẽ có hiệu lực từ 01/07/2024.
Theo đó, Nghị quyết hướng dẫn về các trường hợp bị hạn chế quyền ly hôn như chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Trong đó, không có hướng dẫn hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong một khoảng thời gian nhất định sau khi vợ/chồng yêu cầu ly hôn nhưng đã được tòa án giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật hoặc tuyên bác yêu cầu. (Trước đây, như hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, những trường hợp bị hạn chế quyền ly hôn của chồng, nếu nộp đơn ly hôn thì Tòa án sẽ bác đơn khởi kiện, tiếp tục nộp đơn sau đó vẫn bị trả lại đơn)
Như vậy, với Nghị quyết 01/2024, TAND Tối cao, trường hợp người có đơn yêu cầu xin ly hôn mà bị tòa án bác đơn xin ly hôn, nếu tiếp tục nộp đơn thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện của đương sự, không được trả lại đơn.
4. Các giấy tờ chứng minh điều kiện nhà ở tham gia giao dịch khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở
Theo Điều 8 Nghị định số 95/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở 2023 – có hiệu lực từ ngày 01/8/2024, nhà ở vẫn được tham gia giao dịch khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu trong những trường hợp và điều kiện cụ thể được pháp luật cho phép, các loại giấy tờ chứng minh có thể là:
Giấy tờ chứng minh nhà ở đủ điều kiện đưa vào kinh doanh.
Văn bản thông báo về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản cấp tỉnh .
Giấy tờ nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Giấy tờ chứng nhận về quyền sử dụng đất và Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng theo pháp luật về xây dựng/ Giấy tờ chứng minh về việc đầu tư xây dựng nhà ở.
Giấy tờ xác định nhà ở thuộc diện được thuê, bán theo quy định của Nghị định này.
5. Từ 01/7/2024, nghỉ ốm đau nửa ngày cũng được hưởng trợ cấp
Trước đây, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 chỉ quy định người lao động nghỉ ốm đau một ngày thì mới giải quyết chế độ ốm đau. Trường hợp, nghỉ ốm đau nửa ngày thì không được giải quyết chế độ ốm đau.
Tuy nhiên, theo quy định mới, tại khoản 5 Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã bổ sung quy định về nghỉ ốm đau nửa ngày cũng được hưởng trợ cấp, cụ thể:
Từ ngày 01/07/2025, người lao động nghỉ nửa ngày vẫn được hưởng trợ cấp ốm đau.
- Trường hợp ốm đau nửa ngày: Được hưởng mức trợ cấp bằng 1/2 mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày.
- Trường hợp ốm đau từ nửa ngày đến dưới 01 ngày: Mức trợ cấp được tính là 01 ngày.