bản tin pháp luật

Doanh nghiệp không công khai thông tin khuyến mại có bị phạt?

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 98/2020/NĐ-CP về xử phạt các hành vi vi phạm trong khuyến mại, theo đó:“1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng quy định về việc cung cấp, công khai thông tin về hoạt động khuyến mại khi thực hiện khuyến mại;”

Theo quy định trên, trường hợp thương nhân khi thực hiện khuyến mại mà không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, hoặc không đúng với quy định về việc công khai thông tin về hoạt động khuyến mại thì bị phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng.

Thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo công khai các thông tin như sau:

Tên hoạt động khuyến mại; Giá bán hàng hoá, dịch vụ cung ứng được khuyến mại, các chi phí liên quan để giao hàng hóa, dịch vụ khuyến mại cho khách hàng.

Tên, địa chỉ và số điện thoại của thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại.

Thời gian khuyến mại, cụ thể ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa điểm diễn ra hoạt động khuyến mại.....

Cá nhân môi giới bất động sản không được hành nghề độc lập từ 2025

Một trong những điểm quan trọng quy định tại Điều 61, Luật Kinh doanh Bất động sản 2023. Theo đó, tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải tuân thủ các điều kiện sau đây.

Cá nhân hành nghề môi giới bất động sản cần phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Điều này là một bước quan trọng để đảm bảo rằng người hành nghề đã được đào tạo, có kiến thức chuyên sâu và nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến thị trường bất động sản.

Cá nhân này phải hành nghề trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản hoặc một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản.

Điều này giúp đảm bảo rằng cá nhân hành nghề không chỉ có sự hỗ trợ từ doanh nghiệp mà còn tuân thủ các nguyên tắc và quy định của ngành, đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp môi giới bất động sản.

Các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 15/02/2024

Tại khoản 4 Điều 1 Thông tư 15/2023/TT-BLĐTBXH quy định về 05 trường hợp bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động có tháng đóng chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.

 Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp.

Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với trường hợp người lao động được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Điểm mới về thu nhập chịu thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản năm 2025

Hiện nay, thu nhập chịu thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật thuế Thu nhập cá nhân 2007:”1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng từng lần.”

Tuy nhiên, quy định nêu trên đã được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 247 Luật Đất đai 2024 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2025 như sau: “1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng từng lần; trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thu nhập chịu thuế tính theo giá đất trong bảng giá đất”.

Như vậy, Luật đất đai 2024 đã bổ sung thêm quy định về việc xác định thu nhập chịu thuế TNCN trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ thể, kể từ ngày 01/01/2025: Thu nhập chịu thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác định theo giá đất trong bảng giá đất. Trong khi đó, thu nhập chịu thuế TNCN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản khác (không phải là quyền sử dụng đất) thì vẫn được xác định theo giá chuyển nhượng từng lần như hiện nay.

Thêm nhiều trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất từ 2025

Quy định mới tại Điều 157 Luật Đất đai 2024 đã bổ sung nhiều trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất từ ngày 01/01/2025 so với quy định trước đây tại Điều 110 Luật Đất đai số 45/2013/QH13, Điều 11, 12 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, bao gồm:

Đất để làm bãi đỗ xe, xưởng bảo dưỡng phục vụ hoạt động vận tải hành khách công cộng; đất xây dựng công trình trên mặt đất phục vụ cho việc vận hành, khai thác sử dụng công trình ngầm.

Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng nhà xưởng sản xuất.

Sử dụng đất xây dựng công trình cấp nước sạch và thoát nước, xử lý nước thải tại khu vực đô thị và nông thôn.

Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở, sân phơi, nhà kho; xây dựng các cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đối với hợp tác xã nông nghiệp.

Đối với trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì không phải thực hiện thủ tục xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được miễn. Người sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất không phải thực hiện thủ tục đề nghị miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. 

Ban Pháp Chế - TPCH