Chữ ký số là chữ ký điện tử khi đáp ứng được các yêu cầu.
Từ ngày 01/07/2024, Luật Giao dịch điện tử 2023 sẽ chính thức có hiệu lực thi hành và thay thế cho Luật Giao dịch điện tử 2005. Theo đó, Điều 22 Luật Giao dịch điện tử quy định để CHỮ KÝ SỐ là CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ tử thì phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
Xác nhận chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu;
Dữ liệu tạo chữ ký số chỉ gắn duy nhất với nội dung của thông điệp dữ liệu được chấp thuận;
Dữ liệu tạo chữ ký số chỉ thuộc sự kiểm soát của chủ thể ký tại thời điểm ký;
Mọi thay đổi đối với thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện;
Phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số. Trường hợp chữ ký số chuyên dùng công vụ phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ. Trường hợp chữ ký số công cộng phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng;
Phương tiện tạo chữ ký số phải bảo đảm dữ liệu tạo chữ ký số không bị tiết lộ, thu thập, sử dụng cho mục đích giả mạo chữ ký; bảo đảm dữ liệu được dùng để tạo chữ ký số chỉ có thể sử dụng một lần duy nhất; không làm thay đổi dữ liệu cần ký.
Quốc hội chính thức thông qua Luật Đất đai sửa đổi 2024.
Sáng ngày 18/01/2024, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã chính thức biểu quyết thông qua dự án Luật đất đai sửa đổi (hay còn gọi là Luật Đất đai 2024) với kết quả biểu quyết là 87,63%. Có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2025. Trong đó có một số nội dung đáng chú ý sau:
Quy định rõ các trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
Quy định cụ thể các trường hợp thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê;
Quy định cụ thể trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội;
Cấp sổ đỏ cho đất không giấy tờ đến trước ngày 01/7/2014 mà không vi phạm pháp luật về đất đai;
Bảng giá đất được cập nhật hằng năm, thay vì 5 năm như luật cũ;
Quy định mức thuế cao hơn với người có nhiều diện tích đất, nhiều nhà ở, đầu cơ đất, chậm sử dụng, bỏ đất hoang;
Mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân
Quy định về quản lý và sử dụng đất kết hợp đa mục đích.
Thông báo lãi suất tiền phạt chậm đóng BHYT, lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN từ 01/01/2024 tại TPHCM.
Ngày 15/01/2024, BHXH TPHCM có Thông báo 257/TB-BHXH điều chỉnh lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHYT, BHXH, BHTN.
Căn cứ Quyết định 60/2015/QĐ-TTg ngày 27/11/2015 quy định chậm đóng BHYT từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi thu bằng 02 lần mức lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 9 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trên Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.
Căn cứ Thông báo 80/TB-BHXH ngày 12/01/2024 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, thì lãi suất đầu tư từ Quỹ Bảo hiểm xã hội năm 2023 là 4,36%/ năm, lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 09 tháng do Ngân hàng Nhà nước công bố vào ngày 29/12/2023 là 5,90%/năm.
Theo đó, mức lãi suất áp dụng kể từ ngày 01/01/2024 đối với các đơn vị sử dung lao động trên địa bàn thành phố như sau:
Lãi suất tính lãi chậm đóng, truy đóng BHXH, BHTN là 0,363%/ tháng
Lãi suất tính lãi chậm đóng BHYT là 0,492%/ tháng.
Cải cách thủ tục mới về đăng ký thường trú, tạm trú kể từ ngày 1/1/2024.
Thông tư 66/2023/TT-BCA có hiệu lực từ 1/1/2024 sửa đổi bổ sung các quy định về đăng ký tạm trú, thường trú, theo đó đã cải cách hành chính triệt để, giảm thiểu thủ tục, tạo điều kiện cho người dân trong quá trình đăng ký tạm trú, thường trú. Cụ thể như sau:
Với trường hợp tiếp nhận hồ sơ đăng ký trực tiếp, người dân có thể nộp bản sao giấy tờ được chứng thực từ bản chính hoặc được cấp từ sổ gốc hoặc bản chụp, bản quét kèm theo bản chính để đối chiếu.
Ngoài ra, người dân có thể khai báo thông tin theo biểu mẫu điện tử được cung cấp sẵn, đăng tải bản quét/bản chụp giấy tờ hợp lệ (không yêu cầu công chứng/chứng thực)/dẫn nguồn tài liệu từ kho quản lý dữ liệu điện tử) và nộp lệ phí.
Trường hợp thông tin giấy tờ chứng minh điều kiện đăng ký thường trú/tạm trú đã được chi sẻ và khai thác từ cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc chuyên ngành thì không được yêu cầu nộp, xuất trình giấy tờ đó để giải quyết đăng ký cư trú.
Bên cạnh đó, khi thông tin cư trú cần xác nhận đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì thời hạn giải quyết không quá ½ ngày làm việc.
Trường hợp giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký tạm trú là văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cá nhân, tổ chức thì văn bản đó không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực.
Khi nào bị cấm dùng Chứng minh nhân dân?
Theo Điều 2 Nghị định 05/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 170/2007/NĐ-CP, Chứng minh nhân dân (CMND) có giá trị sử dụng 15 năm kể từ ngày cấp (dù là CMND 9 số hay 12 số).
Trong khi đó, từ ngày 01/01/2021, Bộ Công an đã triển khai cấp Căn cước công dân gắn chip thay cho CMND. Nghĩa là, những người được cấp CMND từ cuối năm 2020 được tiếp tục sử dụng đến hết năm 2035.
Tuy nhiên, mới đây, theo Điều 46 Luật Căn cước năm 2023 số 26/2023/QH15 quy định có hai thời điểm liên quan đến Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân cần lưu ý:
Sử dụng hết 30/6/2024: Áp dụng với CMND, CCCD đã hết hạn trong thời gian từ 15/01/2024 - 30/6/2024.
Sử dụng đến hết 31/12/2024: CMND còn hạn sử dụng. Sau ngày này, tức từ 2025, mọi CMND đều phải làm thủ tục đổi sang thẻ Căn cước.
Đồng thời, các loại giấy tờ pháp lý hiện đang sử dụng thông tin từ số Chứng minh nhân dân vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng. Công dân sẽ không bị yêu cầu thay đổi, điều chỉnh thông tin về Chứng minh nhân dân trong giấy tờ đã cấp.